Chủ Nhật, ngày 28 tháng 9 năm 2014

ĐÊM KINH THÀNH


               


   TRUYỆN NGẮN CỦA MAI TIẾN NGHỊ


          Đêm kinh thành Hoa Lư. Đã nghe trống điểm canh năm, chuẩn bị sang ngày mới. Trăng hạ tuần lơ lửng trên đỉnh Mã Yên. Mấy ngọn tinh kỳ nơi cửa các vương phủ rũ rượi vì ướt sương đêm. Thỉnh thoảng một cơn gió ngang qua, những dải phướn tinh kỳ gượng rướn lên rồi lại rũ xuống mệt mỏi.
          Thoảng tiếng gió thổi, lau khua lào xào như tiếng thở dài nhè nhẹ… nhưng bị nhấn chìm ngay bởi tiếng bước chân những người lính đi tuần. Lạt xạt, lạt xạt… giày cỏ nặng nề lê trên nền đá. Chập chờn, chập chờn bóng những người lính nón dứa áo cộc mờ ảo khuất về nẻo cuối đường.
          Phủ Vệ Vương lạnh ngắt như không người. Trên bàn thờ trong chính điện, trước bài vị sơ sài leo lét ngọn bạch lạp toả chút ánh sáng chập chờn như muốn nâng làn khói trầm đang lởn vởn bay lên… nhưng làn khói hư ảo ấy lại bị kéo xuống bởi bóng đêm thăm thẳm phía chân đèn.
          Trước linh sàng một người quỳ bất động đầu đổ gục, đuôi tóc rũ xuống trước trán in bóng trên vách gỗ như thể bông lau bị bẻ gẫy gập trước gió xõa xợi tả tơi.
          Người đó là Trần Sinh. Một gia tướng của Vệ Vương.
            Trong tĩnh lặng chỉ có tiếng lòng:
          - Chủ Vương! Tôi có lỗi với Người. Đáng lẽ tôi phải theo đi cùng Người dẹp giặc. Nếu gặp tên đạn biết đâu sẽ là khiên chắn cho Người. Nhưng sao Người chẳng cho. Phải chăng linh tính mách bảo, hay người đã tiên liệu sự thể trong bàn cờ thế sự. Thương ơi, nước cờ cuộc đời chỉ sai một ly là đi một dặm. Ai ngờ nên nỗi. Tiên Đế ơi! Thần đã phụ sự uỷ thác của Tiên Đế. Lời dặn của Tiên Đế phải bên cạnh Vệ Vương như thủ túc mà chở che. Cũng bởi vì kẻ tiếm quyền quá nham hiểm, còn người trong cuộc quá khạo khờ nên gây ra cảnh đất nước tang thương nồi da xáo thịt. Các bậc công thần lần lượt hy sinh. Bên cạnh Chủ Vương chẳng còn ai phò trợ, người đàn bà kia vì đam mê dục tình mà làm tay trong cho kẻ sát phu, ngộ nhận sự yêu thương đến nỗi đưa đứa con dứt ruột của mình vào miệng cọp dữ.
          Chủ Vương ơi. Kẻ hèn này tuổi mới lên mười theo cha nghiệp thợ đá vào cung theo mệnh của Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ làm chùa thạch trụ khắc kinh Nghiêm Hoa của Đức Phật. Tôi lúc nhỏ nào đã biết chi, nhưng nghe cha nói bởi Tiết độ sứ Đinh Liễn mang trọng tội giết em út là đương kim Thái Tử. Đáng lẽ theo luật Vua phải xử giảo, nhưng bởi có công gian nan cùng Tiên đế bình thập nhị sứ quân lập Cồ Việt quốc nên cho được ăn năn sám hối. Lệnh Vua thì phải làm chứ chắc gì Tiết độ sứ đã thành tâm. Tưởng mình chỉ dưới một người trên vạn người thì kẻ nào dám dòm dám ngó. Thói đời đành chịu nhún người trên chứ mấy khi phòng bị kẻ dưới. Phàm là kẻ dưới mà tham tiền ắt phải mưu ma qua mặt, tham quyền lực ắt phải sinh chước quỷ bạo tàn… Và người đang ở ngôi cao, đang nơi sáng… làm sao mà nhìn thấy trong chỗ tối đang có kẻ gian manh thâm hiểm rình mò thừa cơ ra đòn trở cờ đảo thế.
          Không gian nặng nề u tịch. Chợt nghe tiếng ào ào như tiếng sấm rền, cái u tịch lặng lẽ bị vỡ vụn. Trần Sinh giật mình. Tiếng gì thế nhỉ? Chàng gục đầu lạy ba lạy trước bàn thờ người chủ của mình và lùi ra khỏi chính điện. Tiếng ầm ào đã bớt nhưng thấy ở phía cung điện nhà vua nhoà nhoà một quầng đỏ gắt. Quầng sáng ấy như vết đỏ máu loang trong không gian bàng bạc ánh trăng. Chắc là bên ấy chưa tàn cuộc vui mừng công thắng giặc Cử Long. Chiến thắng! Chiến thắng và niềm vui đến với họ còn nỗi đau, nỗi lạnh lẽo đang ở nơi này.
          Trần Sinh nhớ lại ngày bắt đầu theo cha vào kinh làm chùa Thạch trụ. Lúc ấy chàng mới là chú bé tuổi lên mười, cha cho đi để truyền nghề. Lúc đầu thì ngày ngày cầm đá ráp mài thạch trụ. Sau quen dần với công việc được cha dạy cầm đục chạm tỉa tót những hoa văn bát đấu, đường viền của những câu kinh sau khi đã được cha đục “phá”. Công việc nhẹ nhàng phù hợp với vóc dáng trẻ con. Cũng từ công việc ấy mà cậu bé Sinh thuộc lòng các nét vẽ cùng với sự khéo tay bẩm sinh do cha truyền lại mà chàng trở thành người thợ lành nghề.
(Minh họa : Nguyễn Đăng Phú)
          Hàng ngày cung nữ dắt Hoàng Tử Toàn mới hơn năm tuổi đi chơi qua chỗ làm của những người thợ đá. Hoàng Tử thích thú khi nhìn thấy một cậu nhỏ chỉ nhỉnh hơn mình một tý cũng làm việc. Có những lúc Hoàng Tử sà vào tận chỗ Sinh, chăm chú xem bàn tay khéo léo của cậu thợ nhỏ, thích thú sờ tận tay những hoa văn vừa đục chạm, ngắm nghía không chán mắt những nét vẽ, đường viền. Khi ấy Sinh buộc phải dừng công việc vì sợ bụi đá bắn vào Hoàng tử. Rồi cậu tìm cách bày ra những trò chơi chốn thôn quê để ông Hoàng nhỏ được vừa lòng. Từ đấy Hoàng tử ngày nào cũng đòi ra chỗ Sinh để được chơi. Có hôm mải chơi quá mà ông Hoàng chẳng chịu ra về mặc kệ đám cung nữ vật nài nhắc nhở.
          Cũng bởi vậy mà Dương Hậu chọn Trần Sinh để làm bạn và sau này sẽ là người bảo vệ Hoàng tử Toàn. Ý Tiên Đế không muốn, nhưng Dương Hậu khóc lóc rằng Bệ Hạ muốn con ta phải là người dũng mãnh cho xứng với Người, dẫu rằng hổ phụ sinh hổ tử nhưng để nó suốt ngày ru rú trong cung, ra vào lúc nào cũng chỉ có lũ đàn bà yểu điệu tha thướt làm dáng làm duyên để lấy lòng thì sao có thể được. Không nỡ làm mất lòng vị Hoàng Hậu mà mình sủng ái, Tiên Đế đành chấp nhận. Vậy nên khi chùa Thạch trụ làm xong thì Sinh phải chia tay với cha để ở lại hầu hạ Hoàng Tử. Hàng ngày hai người cùng học chữ, cùng tập luyện võ nghệ. Rảnh rỗi lại kéo nhau trèo lên đỉnh Mã Yên ngắm nhìn toàn bộ kinh thành cung điện nguy nga, các vương phủ san sát mái ngói lưu ly ánh ngời trong nắng; có lần còn cùng nhau la cà ra tận cầu Dền xem chợ rồi về muộn làm bọn cung nhân tá hoả đi tìm.
          Khi Sinh mười năm tuổi thì Vương tuổi lên mười, đã trở thành phế đế được ba năm.
          Một hôm nhân lúc chỉ có hai người, Vương ghé tai Trần Sinh thì thào:
          - Mẹ ta bảo hai chúng mình từ nay nếu có tập võ thì tập ở trong phòng đóng kín cửa, đừng hò hét. Mẹ ta còn bảo đừng có đi chơi đâu xa, chỉ nên quanh quẩn ở nhà… kẻo rước hoạ vào thân.
          Trần Sinh hỏi lại:
          - Thưa… Sao lại phải thế ạ?
          Vương trả lời:
          - Ta không biết! Chỉ nghe mẹ ta nói nhỏ với ta như vậy. Mà huynh cũng phải cẩn thận. Những gì ta nói, mẹ ta nói… thì đừng nói với ai.
          Trần Sinh không hiểu gì lắm nhưng lờ mờ nhận ra có một mối nguy hiểm đang lơ lửng treo trên đầu hai người. Mãi sau này mới biết Vua mới tuy phong Phế đế làm Vệ vương để lấy lòng Dương Hậu nhưng vẫn sợ có nhiều thân tín của tiền triều sẽ kết bè kết đảng lợi dụng danh nghĩa Vệ Vương vốn là vua cũ để chống lại mình. Vậy nên trong phủ Vương cũng chỉ có mấy người giúp việc cùng với Trần Sinh. Những người giúp việc ấy do Triều đình cắt cử sang cơm nước nhưng họ là tai mắt theo dõi nhất cử nhất động trong phủ ngày ngày báo về triều đình.
          Vệ Vương từ ấy cũng không đi đâu, suốt ngày chỉ đọc sách, rồi thần mặt ngồi ngẫm ngợi. Những lúc ấy trên khuôn mặt thông minh của Vương hằn lên những nét u ám, mệt mỏi. Nhìn Vương mới ở tuổi vị thành niên mà buồn bã như vậy Sinh không khỏi nao lòng. Chàng bảo Vương đọc nhiều quá, ngẫm ngợi nhiều quá ắt sinh trì trệ. Hay là thỉnh thoảng làm văn, làm thơ cho thoải mái. Vương vốn thông minh tài giỏi nên chắc chắn sẽ để lại những tuyệt tác văn chương cho hậu thế. Vương buồn bã trả lời:
          - Huynh bảo ta làm sao có thể làm thơ, làm văn. Làm thơ văn thì phải tụng ca ngâm ngợi hỉ hoan, nhưng với tâm trạng này của ta thì nỗi buồn đau sẽ ám vào câu vào chữ. Rồi biết đâu hoạ cũng từ đấy mà ra. Thường nhật biết bao đầu rơi máu chảy cũng vì việc ấy… Hay là huynh dạy ta cách chạm đá như ngày xưa.
          Trần Sinh lễ phép thưa:
          - Thưa Chủ Vương: Bậc tôn quý không thể lam lũ lao động chân tay. Nghề chạm đá tạo ra tượng Phật Thánh, xây dựng lên nơi tôn nghiêm… nhưng người thợ đá là kẻ thấp hèn không bao giờ dám sánh ngang Phật Thánh, chẳng mấy khi được lui tới chốn tôn nghiêm. Vậy nên Chủ Vương không thể học nghề chạm đá được ạ. Nếu buộc phải theo ý của Chủ Vương thì tôi sẽ là người mang trọng tội với Lệnh bà Dương Hậu!
          Ngẫm nghĩ một lát rồi chàng nói tiếp:
          - Tôi nghĩ Chủ Vương có thể học vẽ để giải sầu. Trong cõi nghệ thuật phàm những gì kiệm nhời nhất mà tỏ rõ được ý tình nhiều nhất thì được coi là tinh diệu nhất. Bởi vậy xếp theo thứ bậc từ dưới lên trên thì văn, thơ, nhạc rồi cao nhất là họa. Tôi vốn từ lao động chân tay không biết đến nhạc, có chăng chỉ vài ba câu hát thô thiển nơi dân dã. Nhưng nhờ trước đây làm nghề thợ chạm đá mà góp nhặt được chút ít cái đẹp, cái hay ở thiên hạ nên cũng biết vẽ vời tý chút. Vậy tôi xin được hầu Người học vẽ.
          Vệ Vương mừng rỡ giục Trần Sinh dạy vẽ ngay.
          Từ đấy hàng mấy năm giời Vương học vẽ miệt mài dưới sự hướng dẫn của Trần Sinh. Rồi chả mấy chốc mà cái vốn vẽ vời của Trần Sinh cũng cạn vì thực ra chàng cũng đâu có được học nhiều. May là Vương cũng có hoa tay về hội hoạ và trí thông minh nên học ít hiểu nhiều. Những tranh  phong cảnh, hoa lá, tứ bình, tứ quý… được Vương vẽ trên giấy dó, trên lụa đã xếp thành chồng cao nơi thư phòng. Vương vui vẻ hơn, thần sắc cũng trở nên thư thái khoan hoà khác hẳn ngày trước, khiến Dương Hậu rất vừa lòng.
           Hoa nào rực rỡ nhất cũng phải đến lúc phai… Với vị vua có tới sáu Hoàng Hậu cùng hàng trăm cung tần mỹ nữ thì lúc này Dương Hậu tuổi đã hơn năm mươi đang dần bị thất sủng. Điều ấy đồng nghĩa với việc tính mạng con bà khó được bảo toàn trong khi mười mấy Hoàng tử đang lo tranh ngôi Thái Tử sau khi người được sắc phong đột ngột qua đời. Chắc chắn con bà không thể tranh giành, nhưng thói thường muốn giành chức đoạt ngôi thì phải kết bè kéo cánh. Hệ luỵ sẽ từ đấy mà ra. Bà lo nếu để Trần Sinh ra về thì lấy ai sớm tối bên cạnh can gián bảo vệ con mình, vì vậy nên cố giữ.
          Lần lữa tháng ngày… cả hai đều cứng tuổi mà vẫn chưa người nào thành gia thất. Năm ngoái Dương Hoàng Hậu đổ bệnh và mất.
          Vệ Vương buồn bã, đau đáu suy tư, hàng mấy tháng không động đến bút vẽ. Có những lúc thất thần lo lắng người bơ phờ. Bọn gia nhân ra sức hỏi han chăm sóc nhưng Vệ Vương chỉ nín lặng.
          Vài tháng trước thấy Vệ Vương đột ngột tươi tỉnh. Đó là khi Vương nhận được chiếu chỉ của Hoàng Đế lĩnh ấn Phó Tướng trong việc dẹp giặc Cử Long ở Ái châu. Trận này do Hoàng Đế đích thân thống lĩnh chỉ huy. Các Hoàng Tử khác đều xin ra trận lập công nhưng Vua không cho mà chỉ chọn Vệ Vương. Phải chăng Người nhớ thương Dương Hậu- người tình đã cùng với mình lao tâm khổ trí tìm kế lấy ngôi Thiên tử… Hay Người muốn ban mưa móc của Quân Vương với thần tử như những người khác, và hơn nữa muốn sưởi ấm tình cảm của người cha dượng đối với nghĩa tử, bù đắp những cô đơn thiệt thòi mà Vương đã gánh chịu từ khi lên bảy tuổi.
          Lập công chiến thắng trở về là một điều chắc chắn vì Cử Long chỉ có ba bốn trăm quân ô hợp, trong khi đó Vua thân đốc suất ba ngàn lính tinh nhuệ thuỷ bộ tấn công. Lúc đó Vệ Vương sẽ trở thành một công thần của triều đình; không còn cam chịu là phế đế cô đơn trong biệt phủ tiêu điều như một lãnh cung.
          Trần Sinh mừng khôn xiết.
          Nhưng bây giờ Vệ Vương đã tử trận!  
          Trong đoàn người ra đón mừng Vua cùng đại quân chiến thắng khải hoàn, thấy Vua tỏ vẻ buồn rầu mà lại không thấy Vệ vương bên cạnh, Trần Sinh đã thất thần lo lắng có điều gì không hay với Chủ Vương của mình. Chàng đau đớn khi nghe thông báo rằng Vệ Vương đã tử trận một cách anh dũng xứng danh Phó Tướng của bậc minh quân.
          Người ta kể: Vua cùng Phó tướng Vệ Vương mỗi người chỉ huy một chiến thuyền, thuyền Vua đi đầu kế theo là thuyền của Vệ Vương theo sát tiến vào trận. Hai người giáp trụ uy nghi đứng ở hai mũi thuyền, quân sĩ hừng hực khí thế, các tay chèo gồng mình đưa mái chèo khua thoăn thoắt, chiến thuyền ngược nước rẽ sóng phăng phăng. Chợt từ trên bờ tên bắn xuống như mưa. Giặc Cử Long phục kích! Chúng nhằm thuyền Vua, thuyền Vệ Vương mà bắn. Tên lao vun vút về phía Vua, về phía Vệ Vương. Nhưng lạ thay tất cả các mũi tên trước Vua đều tự dưng khựng lại như gặp phải một tấm khiên vô hình và rụng lả tả chỉ cách vua vài thước. Còn Vệ Vương bị trúng tên vào cổ và gục xuống. Vua thấy thế vội nhảy sang thuyền Vệ Vương, quỳ xuống đỡ phó tướng của mình lên, cúi nhìn tận mặt. Nước mắt Người ròng ròng khi thấy Vệ Vương đã chết... Đứng dậy... hộc lên một tiếng đau đớn rồi Vua thét: “Đánh!”. Quân sĩ ai cũng cảm động bởi tấm lòng của Vua, thuỷ bộ nhất loạt xông lên phối hợp diệt sạch quân giặc không cho tên nào được thoát.
          Trần Sinh nghe kể mà lòng đau như cắt, sụp xuống trong khi mọi người trầm trồ: “Vua ta đã có trời giúp”… “Vua ta đúng là có Chân mệnh Thiên tử!” Tên bắn mà không thể chạm tới Người.
          Nhớ lại cái giờ khắc đau thương ấy, Trần Sinh thở dài. Tự nhiên chàng băn khoăn: “… Trời giúp…chân mệnh Thiên tử” Chả nhẽ có như vậy thật sao? Phải chăng…? Hà cớ gì trong bao nhiêu người con hưởng tước Vương, bao nhiêu Đại tướng dạn dày trận mạc… Vua lại chọn Vệ Vương- một phế đế, một thanh niên tuổi mới hơn hai mươi chưa từng kinh qua trận mạc? Hà cớ gì Vệ Vương phải ra trận khi Dương hậu vừa mất? Hà cớ gì những mũi tên của giặc như biết dừng đúng lúc? Hà cớ gì những mũi tên lại chọn đúng một mục tiêu? Hà cớ gì giặc Cử Long không một người sống sót?... Những câu hỏi “hà cớ gì” xoáy trong đầu Trần Sinh. Chàng tự trả lời và phát hiện ra nó cùng chung một câu trả lời: Vệ Vương phải chết! Phải rồi! Để vững bền ngai vàng của Đức vua đương triều thì Phế đế- Vệ Vương phải chết!
          Trần Sinh rùng mình. Vậy còn ta… hầu cận thân tín của Vệ Vương? Có thể bây giờ còn được yên ổn. Nhưng ngày mai ngày kia… Ai dám chắc.  Cảm giác vừa lo sợ vừa cô đơn trống vắng ùa đến làm chàng bải hoải. Ta phải mau từ bỏ chốn này. Thân cô thế cô chốn kinh thành, lại là người của Vương thì đâu có thể được yên.
          Chàng quay vào nhà thắp thêm một tuần hương, cúi đầu trước bài vị của Vệ vương miệng lầm rầm khấn:
          -Kính lạy anh linh Đinh Toàn Hoàng đế. Kẻ hèn này từ nhỏ được hưởng ơn Tiên Đế, hưởng lộc của Đinh Hoàng đế hàng ngày. Dẫu là kẻ hầu hạ mà vẫn được Người ban cho tình như huynh đệ. Đã nguyện suốt đời tận trung để hầu hạ Người. Nay chẳng may Người phải theo Tiên Đế về giời. Những toan phải quyên sinh theo Người để vẹn chữ Trung. Nhưng ngặt vì còn nặng chữ Hiếu với tổ phụ nơi quê nhà nên phải hồi hương, đành đắc tội với Người. Mấy nén nhang này xin thắp trước linh vị, sau đó xin được đem chân nhang về thờ tự nơi trú ngụ, truyền cho con cháu đời đời hương khói để ấm lòng người đã khuất. Cúi xin Anh linh chấp nhận lời thỉnh cầu của kẻ hèn mọn này.
          Khấn vừa xong chợt thấy bát nhang cháy bùng bùng. Hương đã hoá.  Ngọn lửa trên bát nhang quằn quại rừng rực bốc cao… Những chữ thếp vàng trên bài vị của Vệ Vương phản chiếu ánh lửa loé lên. Trong tiềm thức Trần Sinh chập chờn ánh mắt của Vệ Vương vừa u buồn vừa khích lệ từ nơi xa thẳm… Trên cao Phế đế đã chuẩn lời khấn của chàng.
          - Trần huynh… Huynh định bỏ nơi này? Một tiếng nói nhỏ cất lên.
          Sinh giật mình quay lại.
          Trong ánh lửa của bát hương đang cháy, Sinh thấy một người hầu gái trong phủ đang đứng trước mặt. Chàng ngỡ ngàng: Sao cô ta lại ở đây vào lúc này? Đang theo dõi ta chăng? Từ trước đến nay chàng rất ít tiếp xúc với cánh đàn ông ở phủ vì cảnh giác sợ họ tọc mạch dò hỏi biết những câu chuyện riêng giữa Vệ Vương nói với chàng. Chàng cũng không dám nhìn, không dám ngắm, và lánh xa bọn hầu gái vì chàng biết nếu chỉ cần có bất cứ động thái nào tỏ vẻ hứng thú với đàn bà thì sẽ bị cung hình ngay lập tức. Cố giữ mình để bảo toàn mạng sống, bảo toàn nguyên vẹn hình hài bản năng chính là để bảo vệ Chủ Vương của mình.
           Chàng nhận thấy trước chàng là một người con gái đẹp. Người con gái ấy khẽ nói:
          - Huynh nên đi khỏi nơi này! Tôi định nói điều này từ lâu nhưng rất khó gặp huynh. Tôi có ý tìm lúc thuận tiện, bây giờ không còn nhiều thời gian để chần chừ nên tôi thức suốt đêm chờ mọi người đã ngủ im để nói với huynh. Nào ngờ nghe lời khấn của huynh thì tôi biết là Chủ Vương đã dun dủi…  Mấy tháng trước khi Dương Hậu mất, có người trong phủ lẻn vào thư phòng của Vệ Vương lấy được một bức tranh, người đó dâng lên Thánh Thượng…
          - Tranh nào?
          - Tranh vẽ rồng… Tôi chỉ nghe họ nói vậy chứ không được xem tranh. Dưng mà theo nhời người ấy thì Bệ hạ xem tranh xong tỏ vẻ rất tức giận. Mặt Thánh thượng đanh lại, miệng lẩm bẩm: Nghịch tặc! Sao dám coi nghiệp đế của ta có được bởi tay đàn bà?
          Ra thế... Tranh vẽ rồng… Đúng là Vệ Vương có vẽ một bức tranh Rồng...
          - Nhưng bức tranh ấy bây giờ ta vẫn thấy trong thư phòng?
(Minh họa: Nguyễn Đăng Phú)
          - Vâng… tất cả các tranh của Vệ Vương đều được bí mật lấy về cho Vua xem và  bí mật trả về chỗ cũ.
          Trần Sinh nhớ lại khi Dương Hậu ốm nặng thì ngày nào Vệ Vương cũng sang thăm. Sau một cuộc viếng thăm như vậy thấy Vệ Vương vào ngay thư phòng ngồi vẽ. Sợ kinh động cảm hứng của Vương, Sinh chỉ đứng ngoài cửa gác như mọi lần. Đến khi Vệ Vương gọi thì chàng mới dám vào. Vương chỉ tấm lụa vừa vẽ: trên đó là một con rồng dũng mãnh nhe nanh múa vuốt. Nhưng chân rồng là những cánh tay đàn bà. Những cánh tay này túm chặt lấy sừng, bờm và cả râu rồng… xung quanh rồng láo nháo những chồn, chuột rình mò, cá lớn đuổi nuốt cá bé… Sinh không hiểu thì Vệ Vương nói:
          - Sau khi Phụ Hoàng ta mất, họ Lê nắm binh quyền có ý đoạt ngôi, ta được các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp cõng chạy vào Tràng An lánh nạn và hội quân chống lại thì các vị đã từng nói với ta về mưu mô kẻ thù phương Bắc: Nó thấy Vua ta đại định thì tức tối. Vậy nên khi Huynh trưởng Đinh Liễn đi sứ sang đất Tống, lúc về có sứ Tống đi theo mang sắc phong Vương cho Tiên Hoàng mà lại còn kèm ấn Tĩnh hải quân Tiết độ sứ cho Huynh trưởng thì ắt có chuyện xảy ra. Bởi cái chí của Tiên Hoàng xưng Đế để Cồ Việt quốc ngang hàng Tống quốc, là tuyên ngôn thoát khỏi cái ách nhược tiểu phụ thuộc như quận huyện của họ. Họ cố tình đặt lại chức Tiết độ sứ thì có khác gì ngày trước, vẫn giữ quyền cai trị với nước ta. Đã thế Tiết độ sứ lại là con trưởng của Tiên Hoàng. Với khí chất mạnh mẽ thì Phụ Hoàng nổi giận rồi phong Hoàng tử út Hạng Lang làm Thái tử là câu trả lời sắt đá. Bởi Ngài nghĩ rằng nếu phong huynh trưởng Liễn làm Thái tử, sau này huynh trưởng lên ngôi thì chẳng hoá vua nước Đại Cồ Việt vẫn là Tiết độ sứ, vẫn là chức quan nhỏ của Tống triều... chẳng phải Cồ Việt cũng vẫn chỉ là quận huyện của Tống quốc hay sao?
          Bên ngoài kẻ thù thâm hiểm rình mò như lũ chồn chuột, bên trong lại có đám nghịch thần mưu mô… Họ Lê lúc ấy vừa là thủ túc của Huynh trưởng Liễn, vừa là người được mẹ ta đi lại sủng ái. Người ta xúi bẩy tỵ hiềm, nhỏ to khích bác Đinh Liễn rằng Tiên Hoàng bỏ trưởng, lập út là trái đạo… Rồi người ta khích bác mẹ ta: nếu không lập Huynh trưởng thì đáng lẽ ngôi Thái Tử là của ta chứ sao lại trao cho Hạng Lang là con út... Để đến nỗi cốt nhục tương tàn: Đinh Liễn giết Hạng Lang. Những tưởng rằng huynh trưởng phải chịu tội chết... Nhưng Tiên Hoàng lại nghe lời các trung thần nén giận mà tha cho, nên cả mẹ ta lẫn họ Lê đều thất vọng. Họ Lê nói với mẹ ta nếu để thế này, trước sau ta cũng bị hại bởi tính tình Huynh trưởng ngang tàng bất chấp. Nhưng nếu trừ bỏ một mình Huynh trưởng thì Tiên Hoàng ắt sẽ tìm ra kẻ chủ mưu. Do vậy mới có cái chết thảm khốc của Tiên Hoàng cùng Huynh trưởng.
          Ta trẻ con làm vua, mẹ ta chấp chính được gần năm giời nhưng thực ra họ Lê nắm quyền. Người ta loại bỏ hết những trung thần của Tiên đế… Nước loạn từ ngày ấy. Và kết cục từ những việc này mà Tống triều mới có cớ để khởi binh… bởi mưu đồ thôn tính của họ có từ lâu.
          Khi có giặc xâm lược thì từ vua đến dân phải đánh giặc. Nhẽ đời vẫn thế. Sử sách sẽ muôn năm lưu danh anh hùng ghi công chiến tích những người vị quốc vong thân. Nhưng bia miệng cũng đời đời trách tội kẻ làm nước loạn, dân bất an vì mưu cầu tranh bá đồ vương. Bởi kẻ làm cho nước sinh loạn, dân bất an... chính là kẻ giúp cho ngoại bang nhòm ngó tính bài xâm lược.  
          Tiên Hoàng cha ta đại định non sông lần đầu tiên xưng đế. Sai lầm lớn nhất của Người là đặt lòng tin không đúng chỗ. Người dùng hình luật hà khắc để giữ vững nền thống nhất, như con rồng nhe răng múa vuốt bởi không tin dân, lúc nào cũng nơm nớp lo tạo phản. Nhưng Người mềm yếu uốn lượn bó khuôn bởi quá tin quan lại dưới quyền, dung túng cho hậu cung. Huynh hỏi tại sao ta lại vẽ những cánh tay đàn bà túm bờm, túm sừng rồng ư. Đó là sự cả tin trước những âm mưu xảo quyệt nhỏ nhen như đàn bà của Tống triều, của lũ loạn thần trong triều và của những đàn bà nhỏ nhen âm mưu vô tình tiếp tay cho giặc…Trong đó có mẹ ta… Hôm nay ta nghe mẹ ta hối hận trong sự dày vò tuyệt vọng vì đã ghen tuông ích kỷ, đã đam mê tình ái, đã cả tin những lời đường mật mà để lại hậu quả khôn lường…
          Bây giờ thì Trần Sinh đã hiểu: Bức tranh rồng đã chạm nọc nhà vua. Nó như một lời than thở ai oán. Chính vì vậy mà phế đế phải chết. Chết để chứng với thiên hạ rằng: Hai người: một đang làm Vua, một đã từng làm Vua; Người đi trước tên bắn mà không hề hấn, còn người đi sau chết ngay từ phát tên đầu tiên vì không có “chân mệnh Thiên tử”. Phải chăng câu tung hô: “Chân mệnh Thiên tử” là để khoả lấp mọi mưu đồ và khẳng định vị thế của nhà vua, đè bẹp tâm thức của những kẻ phản kháng.
          “Huynh nghĩ gì mà lâu thế! Hãy sửa soạn mà đi cho kịp. Trời sắp sáng rồi”. Trần Sinh bừng tỉnh khi nghe tiếng của người con gái thì thào trong bóng tối vì ngọn lửa trên bát hương đã tắt tự lúc nào. Tự nhiên Trần Sinh thấy người con gái này từ bây giờ đã trở nên gần gũi. Chàng rụt rè đưa tay ra và gặp được bàn tay mềm ấm… bàn tay ấy cũng mạnh dạn nắm lấy tay chàng. Có nhẽ đây là sự sắp đặt từ tận chốn cao xanh của Chủ Vương...
          Sáng hôm ấy khi cổng thành vừa mở, trong đám người ra ngoài kiếm kế mưu sinh, người ta thấy một cặp vợ chồng ăn mày. Người chồng già nua què quặt gù có bướu trên lưng. Người vợ mắt mù, mặt mày nhếch nhác lấm lem bùn đất… họ nón mê áo tơi rách thất thểu dắt díu nhau đi về phía nam…
          Chiều hôm ấy từng tốp lính lùng sục khắp nơi tìm Trần Sinh. Dăm ngày sau lệnh truy nã khẩn cấp kẻ phản nghịch về tới quê Trần Sinh. Hình phạt: xử trảm toàn gia! Nhưng bố mẹ chàng đều đã chết từ vài năm trước và người ta cũng chẳng thấy Trần Sinh về nhà. Quan địa phương được lệnh triều đình: nếu thấy kẻ phản nghịch Trần Sinh thì phải bắt ngay lập tức. Nếu hắn bỏ chạy được phép tiền trảm hậu tấu.
          Nhưng mọi kiếm tìm đều vô vọng. Không ai biết Trần Sinh đã đi đâu.
         

          Gần sáu trăm năm sau, Triều đình Lê Trịnh cho tôn tạo Đền thờ Vua Đinh ở Hoa Lư. Có một cánh thợ đá đến xin được góp công. Họ nói mình là hậu duệ 17 đời của cụ Tổ đã từng làm chùa Thạch trụ… và họ đưa lên bức lụa vẽ mẫu sập rồng đá do cụ Tổ truyền lại. Đựơc chấp thuận, họ miệt mài làm mấy tháng giời thì xong…
          Chiếc sập rồng đá ấy hiện là kiệt tác nơi đền Đinh!

                                                                                                        Tuyên Quang- Nam Định Tháng 5 năm 2014

  
Đọc thêm!

Thứ Ba, ngày 05 tháng 8 năm 2014

CHỈ TẠI NHÀ THƠ...

  Bịa chuyện cho vui       

 Quỷ Đầu Trâu dạo này được Giời giao cho cai quản dưới âm phủ. Đáng nhẽ cái chức trách ấy là của Diêm vương nhưng Diêm Vương lại mải chơi nên hay xí xớn đi thăm chỗ này chỗ khác để ra điều với thiên hạ rằng thì là nếu Giời mà nghỉ hưu thì sẽ lên thay... Chính vì vậy mà Quỷ Đầu Trâu được cai quản âm ty địa ngục.
          Ngặt một nỗi những thằng người bị chết đều được Giời chứng nhận thuộc diện trong sạch nên được lên Thiên đường ráo cả, chả có đứa nào phải xuống âm phủ. Thành thử Quỷ Đầu Trâu nhận chức mà không có việc gì để làm.
          Đầu tiên Quỷ muốn ra oai định lên trần thế bắt mấy thằng có chức quyền xuống mà khảo cho đỡ “nhạt ghế”. Thật ra quan chức trên này thì thằng nào cũng có tội cả. Lại nhớ lệnh của Giời là làm gì cũng phải tính trước tính sau, bắt hết hỏi tội hết... thì bầu không kịp... Quỷ muốn cắt “Cu” thì phải theo khuôn phép nhà Giời, Giời đã bảo như thế thì đứa nào dám trái, nên đành chịu.
          Được giao “Quyền”  mà lại không có việc gì thì sinh ra chán. Trong không gian âm ty mờ mịt nhờ nhờ nước hến, Quỷ ngồi ngoẹo cổ ngủ gật trên ngai, dãi rớt lòng thòng ướt cả ngực áo. Thấy lành lạnh ở ngực, quỷ tỉnh dậy. Ngáp vài cái mồm rách đến mang tai... chợt thấy sự vô lý của cái chức vị đang quyền. Nghĩ một hồi rồi Quỷ ta khăn gói quả mướp lên giời...
          Qua chín tầng cửa quyền mới vào đến chỗ Giời. Thấy giời cũng đang... ngủ ngồi. Đánh thức dậy thì phạm đến long thể đấng Chí tôn cai quản muôn loài. Mà không  đánh thức thì đến bao giờ mới tâu trình được. Quỷ Đầu Trâu gõ sừng cồng cộc vào chân ngai vàng mà Giời vẫn cứ ngủ. Chắc đêm vừa rồi ngài thức khuya lo việc tầm vũ trụ. Kể cũng thương. Nhưng một ngày trên giời bằng 1 năm dưới trần, một năm dưới trần lại bằng mười năm dưới âm phủ, cứ ngồi đợi thế này thì không khéo phải đóng cửa Âm phủ thì gay. Tính sao bây giờ.
          May sao giữa lúc ấy có Tiên nữ bên cung Quảng hớt hải chạy sang:
          - Giời ơi giời... dậy đi dậy ngay!
          Quái, con này láo thế, dám gọi Giời như thể bằng vai phải lứa. Nhưng Quỷ chợt hiểu ra từ cái câu của người trần thế “gần chùa gọi bụt bằng anh”... cùng giường thì Giời cũng được gọi bằng anh... chả trách nào Ngài vẫn còn mệt.
          Khiếp ngủ gì mà ngủ ác thế. Gọi đến lần thứ hai thứ ba thì Giời mới giật mình hốt hoảng (ôi thì ra Giời vẫn biết sợ):
          - Có việc gì? Việc gì?
          Tiên nữ nói một hơi:
          - Công chúa Hằng Nga nguy... nguy rồi!
          - Sao mà nguy?
          Tiên nữ nhìn Quỷ Đầu Trâu ngại ngại. Giời cũng nhìn thấy Quỷ Đầu Trâu... nhưng ngài phẩy tay:
          - Nói... không việc gì phải ngại! Thằng này ngu lắm, mấy lị dưới âm phủ thì nói được với ai mà ngại. Cứ nói đi, con ta làm sao? Nguy là nguy thế nào?
          - Dạ... dạ. Công chúa Hằng Nga bị bị vỡ... vú.
          Nghe đến đây mặt Giời tái mét... suýt ngất. Cũng may ngài là Giời nên trấn tĩnh được:
          - Sao mà vú con ta lại vỡ được?
          - Dạ... vỡ là do bị nổ ạ! Dạ là do phẫu thuật bơm thẩm mỹ ạ. Do cái mụ Thiên y mắt trố cập bờ lờ nên...
          - Giời ơi là... Chợt nhớ ra mình là giời nên đành kêu khổ thế... khổ thế. Nói cụ thể ta nghe xem nào? Vú nó đang hẳn hoi vậy mà sao phải bơm thẩm mỹ...
          Tiên nữ lập bập thưa:
          -Tại... tại... mấy thằng nhà thơ dưới hạ giới ạ...
          -? ? ?
          - Là bởi nhẽ thế này: ở cung Quảng dạo này buồn quá nên Công chúa sinh ra hay đọc thơ để giải buồn. Đọc nhiều lắm ạ! Nhưng càng đọc Công chúa lại càng tức. Tức vì các nhà thơ toàn ca ngợi Hằng Nga đẹp vào lúc tròn đầy. Mà Giời cũng biết rồi đấy, cả tháng chỉ đầy được có vài ngày còn thì lép xẹp: Đầu tháng mỏng như cái lá lúa, cuối tháng thì nham nhở như thể bị chó gặm. Những lúc ấy chả đứa nào ca ngợi cả. Vậy là Hằng Nga quyết bơm ngực cho đầy cả tháng để bọn nhà thơ lúc nào cũng phải ca ngợi. Vậy là bảo Thiên Y bơm ngực. Thiên Y đặt mức bơm một giờ từ lúc 12 giờ trưa đến 1 giờ chiều... Nào ngờ Thiên y mải buôn dưa lê quên cả thời gian lại mắt cập bờ lờ nên nhìn đồng hồ “nhầm” kim ngắn hóa kim dài kim dài thành kim ngắn... 1 giờ chiều lại tưởng mười hai giờ năm phút... vậy là cứ bơm... cứ bơm... vậy là đoành một phát... nổ to lắm... vậy là Hằng Nga vỡ vú... Vậy là...
          Giời hốt hoảng nhảy từ trên ngai vàng xuống miệng lẩm bẩm: Mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông. Xỏ vội chân vào đôi hia rồi khoát tay một phát Giời bảo: Đi! Thế là Giời đi sang cung Quảng cùng Tiên nữ.
          Quỷ Đầu trâu vội chạy theo nắm lấy vạt áo Giời níu lại. Giời cáu:
          - Đang vội. Có việc gì? Nói mau.
          Quỷ lập bập:
          - Dạ bẩm...
          - Bẩm cái con khỉ. Nói mau... vội bỏ mẹ lại còn bẩm...
          Quỷ vội thưa:
          - Bẩm dạo này dưới âm ty không có việc để làm!
          Giời chửi ngay:
          - Sao ngu thế. Tao đã đặt ra chức cho mà ngồi thì phải tự nghĩ ra việc để mà làm. Có vậy mà còn hỏi.
          Nói xong Giời tất tả đi miệng vẫn lẩm bẩm: mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông.
          Quỷ nghe được những nhời vàng ngọc của Giời nhưng chả hiểu ra làm sao. Hắn đứng gãi tai, gãi mũi một hồi rồi nhẩm: “Nghĩ việc mà làm... mấy thằng nhà thơ khốn kiếp... rồi biết tay ông”. Thế là thế nào nhỉ? À đúng rồi mình là quân của Giời, phải nhớ câu “còn Giời thì còn quỷ...” mà Giời đang ghét mấy tay nhà thơ. Vậy thì phải trị mấy tay nhà thơ. Đúng. Phải trị. Thay Giời hành đạo, trị mấy tay nhà thơ lập công với Giời. Thế nào cũng được thưởng công, thế nào cũng lên chức. Rồi mình sẽ lên làm Diêm Vương, rồi dần dần được đề bạt làm ông Giời, thoát khỏi kiếp tay sai làm quỷ. Sướng quá. Quỷ vội ba chân bốn cẳng rời khỏi Thiên đình để đi tìm mấy tay nhà thơ dưới trần thế.
          Đến trần thế thì Quỷ Đầu Trâu lại băn khoăn. Nhà thơ là người như thế nào, hắn đâu có biết và cũng chưa gặp bao giờ. Nhưng nghe cái danh xưng “nhà” thơ thì chắc chắn nó phải có cái nhà rất to. Rồi! Nó phải biết làm thơ. Rồi! Nhưng Thơ là cái gì nhỉ... chắc là phải nói có vần... Rồi thì gì nữa nhỉ... Quỷ Đầu Trâu vốn không biết chữ. Không biết chữ nó khổ thế đấy giời ạ...Ôi thôi chết! Phạm húy... Quỷ vội rụt lưỡi lại.
          Từ xa xa Quỷ trông thấy một thằng người. Thằng này đang dạng chân đứng đái. Lại thấy hắn vừa đái vừa hét rõ to:
                   Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng
                   Trông hôm nay và trông cả mai sau
                   Trông bắc trông nam trông cả địa cầu...
          Hiên ngang gớm, vần gớm... Có thể thằng này là nhà thơ- Quỷ nghĩ vậy. Nhưng không biết nhà nó có to không? Cần phải kiểm tra. Nhưng lộ mặt quỷ thì không được: nếu gặp thằng nhát thì nó sẽ chạy bán sới, còn nếu gặp thằng cùn thì... nó đập vỡ mặt. Lại phải nghĩ cách. Quỷ bèn hóa thành đứa con gái. Đứa con gái ưỡn ẹo đến gần thằng người:
          - Em chào anh!
          Thằng người thấy gái thì vội quay người kéo khóa quần... rồi đon đả:
          - Anh chào em gái yêu kiều.
          Ối giời... lại còn yêu kiều. Đúng nhà thơ thật rồi. Vậy là cô gái quỷ hỏi:
          - Anh là nhà thơ phải không ạ.
          Thằng người thấy gái gọi là nhà thơ thì sướng nở mặt nở mũi. Hắn trả lời ngay tắp lự: Đúng anh là nhà thơ... công nhận em gái tinh thật. Vừa xinh đẹp vừa thông minh.
          Thực ra thằng này là thằng chăn vịt, suốt ngày lông nhông ngoài đồng. Nay thấy gái thì ra cái điều thơ phú. Quỷ thì chỉ biết là thơ phải có vần... muốn hỏi nhanh nhanh để biết rõ thằng người có phải nhà thơ không để còn trị tội. Nhưng lại có một cái luật giời là quỷ chỉ được phép biến thành người trong một quãng thời gian ngắn nên cần phải xác định cho rõ. Vậy là cô gái quỷ phải ưỡn ẹo hỏi tiếp vào cái chủ đề chính mà quỷ đang cần biết để khẳng định:
          - Nhà anh ở đâu, có to không?
          Thằng chăn vịt đang cơn hứng và cũng muốn tỏ ra mình là nhà thơ bèn vung tay như nghệ sĩ, mắt nhắm nghiền đầu ngẩng cao ung dung uốn giọng:
          -Trời cao biển rộng ngày đêm
          Mây che làm mái, đất êm giường nằm
          Quân gia kẻ dưới hàng ngàn
          Lúc vui tiên cảnh... lúc nhàn làm thơ.
          Cô gái quỷ nghe thằng chăn vịt nói vậy thì chắc mẩm đây là nhà thơ. Vì nó nói ra là đã có vần, nhà nó to đến vậy cơ mà, gia nhân nó đông hàng nghìn cơ mà... chắc chắn thằng này là nhà thơ nhớn. Mày chết với ông. Vậy là quỷ nắm lấy lưng quần chàng chăn vịt. Thằng chăn vịt thấy buồn buồn ở lưng... sướng mê tơi nghĩ bụng: “Em cảm mình rồi.” Ôi... thì ra bốc phét vài câu mà gái đẹp phải lòng đã bày tỏ tấm tình ngưỡng mộ gửi trao.
          Đang cao hứng định bịa tiếp thì hắn mở mắt. Mở mắt nhìn mặt cô gái để mong chứng kiến sự ngưỡng mộ của người đẹp. Chợt hắn thấy cái mũi cô gái to dần, to dần lại đen sì, còn cái tai vểnh ra như lá mít và trên đầu cô gái thấy nhu nhú cặp sừng... thì phát hoảng. Chả nhẽ lại là quỷ. Quả thật Quỷ đã hết thời gian hóa thân đành hiện nguyên hình. Thằng chăn vịt thất thần tắc giọng... tính bài co cẳng chạy. Nhưng Quỷ đã giữ chặt lấy cạp quần, thằng chăn vịt ngã sóng xoài. Quỷ cũng ngã theo nhưng tay vẫn giữ chắc cái lưng quần của thằng người. Chàng chăn vịt vội vàng xoay người nằm ngửa, chuồi chân ra khỏi cái quần... rồi chạy thục mạng.
          Quỷ ngơ ngẩn tiếc rẻ, rồi cầm cái quần của chàng chăn vịt: Xem trong quần của “nhà thơ” có cái gì. Thấy cồm cộm, quỷ ta lôi ra một tờ giấy. Thấy đầy chữ. Nhưng Quỷ lại không biết chữ nên chắc mẩm đấy là “thơ” vì Nhà thơ chắc chắn phải giữ thơ ở trong túi quần. Thực ra đấy là một tờ công văn hay thông báo gì đó mà chàng chăn vịt nhặt được. Mục đích là để làm giấy chùi sau khi đại tiện, để khỏi phải dùng bằng đất mỗi khi ở ngoài đồng.
          Dẫu Giời bảo là ngu nhưng quỷ ta cũng chịu khó nghĩ ngợi. Chả vậy mà người trần thế có câu mưu ma chước quỷ. Thế là Quỷ đần mặt ngồi tập hợp các dấu hiệu mà quỷ chắc chắn đấy là nhà thơ: Ở nhà to này; có đông kẻ hầu người hạ này, lúc mơ tiên cảnh tức là chơi bời rượu chè nhậu nhẹt chân dài nhà nghỉ... lúc nhàn làm thơ: Thơ thì phải viết ra tức là phải viết rất nhiều chữ như cái tờ giấy mà quỷ vừa bắt được. Được rồi. Thế thì rất dễ tìm. Đợt này ông cho chúng mày toi.
          Thế là quỷ tàng hình đến tất cả các nhà to có gác cổng, có kẻ hầu người hạ... tìm những anh chàng hay nhậu nhẹt rượu chè chân dài nhà nghỉ để đánh dấu. Sau đó lại lượn lờ theo đuôi những anh chàng ấy để xem xét... Nếu thấy ngồi viết lách trong biệt thự nguy nga thì chắc chắn đấy là nhà thơ.
          Sau khi xác định được các “nhà thơ” rồi thì Quỷ ta lên bá cáo với Giời: Hiện nay bọn “nhà thơ” rứt là đông. Những điều chúng viết ra bị dân chúng la ó chửi bới Giời thậm tệ: nào là Giời quan liêu, nào là Giời dung túng, ngầm tiếp tay cho đám ăn bớt ăn chặn, thậm chí có người còn bảo là Giời ngu... Uy tín của ông Giời ngày càng giảm sút nghiêm trọng.
          Quỷ kết luận: Đây là bọn phá hoại.
          Nghe nhời Quỷ tâu lên, Giời tức quá. Đúng là bọn phá hoại! Ngài ban cho Quỷ Đầu Trâu “Thượng phương Bảo kiếm” truy nã bắt tất cả bọn “nhà thơ” ấy xuống âm phủ. Bắt cơ man là người. Quỷ lúc này rất bận rộn vì phải ra oai hỏi cung để trị tội. Nhưng oái oăm... bọn này không tên nào chịu nhận là nhà thơ.
          Quỷ chả hiểu ra làm sao... lại lên tâu với Giời. Giời lúc ấy đích thân xuống âm phủ xem xét.  Sau khi xem xét xong Ngài hằm hằm chỉ tay vào mặt Quỷ Đầu Trâu: Đồ ngu. Đấy chính là các quan, các chủ dự án của thiên đình... Trách nào khi vá vú cho Hằng Nga xong thì nhìn thiên đình vãn đi quá nửa. Làm gì có nhà thơ nào!
          Thế là Quỷ bị phạt. Một năm Giời chỉ cho lên mặt đất có vài ngày. Đến bây giờ hắn vẫn tức vì cái sự ấy và lầm bầm chửi “chỉ tại mấy tay nhà thơ.”
          Còn Hằng Nga dạo này vẫn xẹp lép đầu tháng, nham nhở cuối tháng... mấy ngày giữa tháng thì vơ những đám mây để che những đám vá víu trên ngực mình cho đỡ xấu hổ. Bây giờ có thách kẹo cũng chả dám nghĩ đến chuyện bơm ngực thẩm mỹ nữa.
          Các nhà thơ thật thì  đang ở nhà tôn nóng chảy mỡ, vén quần quá đầu gối củ lạc, uống rượu nút lá chuối nhắm lạc rang đang cười ha hả... khoái chí lắm.
          Và họ lại rổn rảng đọc thơ: “trăng tròn tròn, tròn như cái mâm con”
           

           
         



         



         

           
Đọc thêm!

Thứ Ba, ngày 01 tháng 7 năm 2014

VÒI RỒNG

Hai thằng đi "Diệu" về. Hai thằng hết gần hai lít. Say. Hắn ngồi sau, mình cầm lái bởi mình còn chưa thấy chóng mặt chóng mũi gì. Mình cầm lái mà thấy xe đảo như lên đồng. Thì ra thằng này say quá ngất ngư đằng sau. Mình quát:

- Ngồi im tao đưa về nhà. Giãy như điên vậy thì chết cả đôi bây giờ.

Hắn thều thào: Say ... em say... khó chịu lắm

Mình dừng xe lại ở quãng vắng, bảo hắn ra mé đường mà tháo. Hắn lảo đảo xuống xe, chuyệnh choạng ra mé đường đứng nôn khan. Rồi nước mắt giàn giụa vừa ngồi lên xe vừa bảo: "Đếch được anh ạ!"

Thế nhưng xe chạy một lúc thì thấy hắn uớ uợ vài cái. Mình nghĩ nếu dừng lại bây giờ thì nó phụt vào lưng mình chứ chả chơi. Vội thét: Quay sang bên mà phụt.

Vậy mà hắn phụt thật. Nhìn qua gương chiếu hậu thấy hắn phụt như vòi rồng... Kinh kinh là, hơi "diệu" nồng nàn...

 Mình cố phóng nhanh nhưng cái sự nồng nàn ấy vẫn đuổi theo ... nó kích thích luôn mình. Cổ họng lấp ló lấp ló đầy vơi...Vậy là phải dừng xe...chạy bộ ra vệ đường... Và mình cũng chỉ uớ uợ vài cái rồi cũng phun như thể vòi rồng.

Thằng nọ nhìn thằng kia mà kinh... rồi thi nhau phụt. Cũng may là quãng đường vắng hai bên toàn ruộng lúa

Hắn lúc này đã hoàn hồn. Rồi hắn nước mắt nước mũi giàn giụa nhìn mình cũng đang giàn giụa mắt mũi. Hắn bảo:

- Em nghĩ ra rồi, giá anh em mình có tiền thuê tàu ra Hoàng Sa, trèo lên nóc cột buồm uống cho say rồi phun sang tàu các "đòng chí" khựa... chắc chắn bọn này sẽ chạy như vịt anh nhỉ...

Hắn là Lã Thanh An.
Đọc thêm!

Thứ Tư, ngày 25 tháng 6 năm 2014

CHÍNH QUẢ



 Xin kể một câu chuyện vui vui để mọi người cùng chia sẻ:
 
Có một ông sư trên đường tu tập. Phương châm của vị này là sẽ đi các chùa để viếng thăm và học hỏi thêm các kiến thức của các vị sư chủ trì về Đạo Phật  bằng cách đặt ba câu hỏi. Nếu được trả lời thỏa đáng thì sẽ ra đi ngay, nếu câu trả lời không thỏa đáng thì sẽ ở lại chùa ấy đàm đạo để có chân lý.

  Phương pháp hỏi và trả lời trên nguyên tắc vô ngôn. Bởi vì theo lời Phật thì chân kinh nhà Phật là không có chữ (có lẽ vì vậy mà Đường Tăng lấy kinh thì được nhận toàn sách kinh không chữ... ngặt vì Đường Tăng chỉ là anh người trần mắt thịt nên mới tá hỏa đòi kinh có chữ). Hỏi bằng cách ra hiệu và trả lời cũng bằng cách ra hiệu. Tuyệt đối không nói.

 Vị sư này đi suốt ngày mới đến gặp được một ngôi chùa ở trong rừng. Chủ trì trong ngôi chùa này là hai vị sư: một đã già, một trẻ hơn nhưng chột một mắt. Hai người vốn là anh em. Khi vị sư của chúng ta đến chùa, vị sư già xin cáo lỗi bởi trong thân khó ở, vậy nên nhường sư em một mắt đàm đạo. 

Vị sư già vào trai phòng nghỉ ngơi. Chưa đầy dăm phút đã thấy khách đến chào, cáo từ ra đi mặc dù đêm tối và trước mắt là rừng rậm thú dữ. Vị sư già ngạc nhiên khi thấy trước mặt mình là vị sư khách vừa chào vừa lau miệng vì mồm bị tóe máu:

- Bạch thầy! Sao người lại đi ngay? Và vì sao miệng thầy lại tóe máu?  

Sư khách trả lời:

 - Bạch sư phụ. Bần tăng đã được sư huynh một mắt chỉ giáo đầy đủ rồi ạ!

  - ? ? ?

- Bạch sư phụ. Đầu tiên con đưa một ngón tay lên trên đầu. Ý nói trong bảy cõi thì cao nhất là Phật. Sư huynh giơ hai ngón tay ngang mày, con hiểu là không chỉ có Phật mà còn có Pháp. Con bèn giơ ba ngón tay để nói rằng Tam bảo của đạo ta là Phật- Pháp- Tăng. Thấy thế sư huynh một mắt liền nắm tay lại, đấm vào mặt con một chưởng để khẳng định sức mạnh của Phật Pháp Tăng. Phải hội đủ ba thứ ấy mới thành chính quả. Hiểu đạo như vậy là đến gốc. Vậy nên con xin phép ra đi vì đã thỏa nguyện.

 Nói đọạn sư khách chắp tay cúi chào và ra đi. Đợi khách đi xa, Sư già gọi sư một mắt lên hỏi:

 - Sư đệ cho ta biết vừa rồi đối đáp thế nào mà vị khách tâm phục ra đi ngay?

 Vị sư một mắt thưa:

 - Thưa sư huynh. Thoạt đầu thấy nó đưa một ngón tay là đệ đã cáu lắm. Thằng này láo, dám chế giễu đệ là thằng mắt chột. Đệ mới đưa hai ngón tay dọa: Đừng có mà láo, ở đây chúng tao có hai anh em, vật mày phát chết tươi đừng tưởng bở. Nó lại đưa ba ngón tay ý bảo rằng: dẫu hai người nhưng cũng chỉ có ba con mắt thì có gì đáng gọi là khỏe mà còn khoe. Đệ điên lên: Thằng này láo quá rồi. Thế là đệ nắm tay giang thẳng cánh cho một chưởng vào mặt nó đến hộc máu mồm. Vậy là nó sợ quá phải cáo từ để đi ngay...

 - Mô Phật... Bồ tát cứu khổ cứu nạn!



Đọc thêm!

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 6 năm 2014

NỢ NHÂN GIAN (truyện ngắn của Mai Tiến Nghị)

(Tiếp theo và hết)

Những tưởng lão cứ vênh vang được mãi. Vài năm sau vợ lão chết, nghề giết chó bán ở chợ chả còn ai mua vì bắt đầu có những quán cầy tơ bảy món với đủ mọi chiêu trò câu khách ra đời. Rồi hai “sĩ quan vặt lông chó” của lão sinh ra nghiện ngập cờ bạc ma tuý. Bao nhiêu tích cóp của lão dần dần biến mất vào những cuộc đỏ đen và những cơn phê phê của hai quý tử. Khi tiền cạn thì hai thằng con cũng lần lượt từ giã lão để đi về thế giới bên kia do chích thuốc quá liều. Trước khi ra đi chúng đã kịp để lại cho ông bố già một đống nợ. Mà chủ nợ toàn bọn mổ mèo lấy cá... chúng thuê đầu gấu đến nhà giơ dao siết nợ. Lão phải bán nhà để trả nợ cho con.
          Lão Viên không còn nhà, vật vạ tại lều chợ... tối tối đánh bạn với đám ăn mày. Mọi người bảo: ở với bọn ăn mày thì có khi đi ăn mày...
          Và lão đi ăn mày thật. Đầu tiên mọi người can ngăn... Lão lý sự rằng thân tôi, tôi phải lo. Mọi người chả có thể lo cho tôi được mãi, ăn mày thì nào có hại gì đến ai. Mọi người đành chịu lão bởi vì vào những năm chín mươi tự lo cho mình cho gia đình còn khó, sao có thể lo được cho người khác.
          Lão chuyển từ lều chợ vào ở cái nhà kho cũ vốn để không của Hợp tác xã từ ngày khoán ruộng. Gian ngoài cùng chứa đòn đám ma, gian giữa thì để mấy cái máy bơm hỏng. Lão tá túc ở gian tây cùng ngay sát đường xóm. Cán bộ hợp tác xã thấy tự nhiên có được người coi kho không công thì để yên cho lão ở. Mọi người thấy hoàn cảnh lão vậy cũng chả ai nỡ bì bục gì.
          Tôi ra quân và đi học nghề gõ đầu trẻ vào cái thời mà lão Viên bắt đầu sa sút. Tôi ra trường được vài năm thì được đưa ma hai thằng con lão và được chứng kiến sự nghiệp ăn mày của lão bắt đầu.
          Ngày nào cũng như ngày nào, lão Viên ra đi từ mờ sáng. Đến tối nhọ mặt người mới thấy lão thất thểu vẹo vọ về tới nơi tá túc. Bộ dạng lúc đi như thế nào chả mấy người làng được biết nhưng lúc về thì trên người lủng lẳng những dúm ni lông được buộc vào một sợi dây thừng đeo vắt vẻo trên cổ, trên vai. Mọi người gọi lão là “lão Chín Dúm”. Có lẽ áng chừng số lượng các dúm như vậy, chứ có khi còn nhiều hơn…
          Buổi tối tôi hay thể dục bằng cách đi bộ. Nhiều hôm đi ngang qua thấy lão “Chín Dúm” về. Lão thong thả gỡ cái dây treo toòng teng các loại dúm ni lông trên cổ xuống. Tôi vốn tò mò nên ghé vào xem. Lão cũng tự nhiên chả cần phải giấu, cứ mở từng dúm từng dúm... Đầu tiên là dúm gạo rồi một dúm có một ít cơm đã bốc mùi chua, dúm rau úa vàng như dưa muối, dúm vài cái đầu cá kho, dúm vài miếng thịt lợn, mấy miếng xương có lẫn những sợi miến nhão nhoẹt mà có lẽ lão vào ăn xin ở một đám cưới hay đám ma... Lão trút dúm gạo vào cái xô nhựa mẻ, các thứ khác lão cho vào những cái bát sứt sau khi đưa lên mũi hít hít để đánh giá chất lượng, có khi cơm rau dính cả vào bộ râu rậm. Cuối cùng là một dúm nhỏ chỉ nhỉnh hơn cái chén hạt mít. Lão nâng niu ngắm nghía cái dúm rồi đặt xuống đất, lần tìm trong túi lôi ra một cái kính không gọng... lão thong thả treo cái kính lên mặt bằng hai sợi dây chun. Tôi hồi hộp: vàng... chả nhẽ lão lại ăn xin được cả vàng. Sự trịnh trọng thái quá của lão càng làm tôi tò mò... nhưng lão chả để ý gì đến việc có người đang chứng kiến. Tay run run lão mở cái túi. Tôi căng mắt nhìn và không thể tin được: đó chỉ là những viên đá mạt... Những viên đá dính đất nham nhở và chỉ to bằng hạt ngô... lão đổ mớ đá ra nền nhà, chìa ngón tay trỏ cáu bẩn gạt từng viên, từng viên... đếm cẩn thận như đếm kim cương: “Một.. hai..... hai bốn... hai nhăm.... hà hà... ba mốt. Ba mốt...” Mặt lão dúm lại: “Hơi ít... ba mốt... ít hơn hôm qua”. Lão đần mặt ngẫm nghĩ một tý rồi  bốc tất cả những viên đá cho vào một đống đá mạt cũng đến gần nửa xô ở trong góc nhà. Có lẽ đấy là đống đá gom lại từ những ngày trước đó. Lão nhìn đống đá, mặt bần thần, chòm râu rung rung, cổ họng hừm hừm vài cái rồi thở dài đánh thượt. Rồi lão cúi mặt như mặc niệm...
          Quan sát mấy lần đều như vậy. Chả hiểu lão quỷ già này làm cái trò gì mà quái gở thế không biết?
          Tuyệt nhiên không thấy có tiền. Có lẽ lão giấu trong áo quần. Mà để ý làm gì. Kệ lão!  
    
          Kệ lão nhưng đâm ra thắc mắc về những dúm đá trong đám chín mười cái dúm mà hàng ngày lão tha về. Băn khoăn thì phải hỏi, bởi tính tôi không hỏi thì vẫn còn băn khoăn. Một lần tôi đi qua thấy lão đã tắm rửa quần áo sạch sẽ ngồi ở hiên, tôi ghé vào ngồi rồi đánh bạo hỏi “Bác đi như vậy liệu có kiếm được khơ khớ không”. Hỏi mà không chắc được trả lời. Trái lại, lão trả lời luôn bằng giọng thân thiện: “Cũng nhì nhằng đủ ăn mày ạ!”
          -Đi ăn mày cũng hay đấy chứ! Vậy sao ngày nào cũng thấy bác có dúm đá mạt mang về? Để làm gì vậy?
          Lão đắn đo một tý rồi nói bằng giọng khàn khàn chán nản:
          - Ôi giời. Hay ho gì kiếp ăn mày... Dưng mà có nhẽ đời bắt tao giả nợ hay sao ý mày ạ. Cũng phải thôi, có nhẽ tao sát sinh nhiều quá... giết người, giết chó... giết nhiều chó quá nên nó oán.
          Tôi lạnh người... Giết chó thì ai cũng biết. Nhưng giết người? Lão đã giết người mà không bị tù tội gì... Chưa thấy ai nói lão đã từng giết người. Thế là thế nào? Chắc là lão thuận mồm hay lú lẫn mà nói vậy thôi.
          Ngửng một lúc, lão thở dài:
          - Mày hỏi tao mang đá về làm gì ư, ôi dào sướng gì cái kiếp ăn mày. Nhục lắm! Người tốt bụng trông thấy mình thì thương hại, được nhời tử tế... mình cũng mát ruột. Nhiều người đã chẳng cho lại còn chửi bới... Đau. Trước thì cũng có bát ăn bát để... giờ thì đi ăn mày... Tao ngẫm ra mình đang phải giả nợ... Mỗi lần người ta chửi mình, mỗi lần người ta không cho... là một lần mình giả nợ đấy mày ạ. Có nhẽ đến lúc chết... Đến chết mà cũng không biết cái nợ của mình nhớn chừng nào. Vậy tao mới nghĩ ra cách cứ mỗi lần xin mà người ta chửi, người ta không bố thí... thì tao lại nhặt một viên đá mạt cho vào túi. Đá mạt thì ở chỗ nào chả có. Cuối ngày đếm lại, nếu được nhiều đá là hôm ý mình giả nợ được nhiều. Đấy tao nghĩ thế đấy.
          Tôi giật mình vì cái cách nghĩ của lão “Chín Dúm”. Thì ra ở đời khôn nhiều thì dại lắm. Mỗi lần mình bị chửi là một lần giả nợ. Kể cũng hay. Giá mà ai cũng vậy thì tốt biết mấy, mọi người sẽ sẵn sàng tha thứ cho nhau. Nhưng trong cõi người này chả có ai thích bị chửi, người ta chi thích được khen. Mà cái sự khen đúng thì đã đành, còn cái sự khen nịnh thì sao. Vậy thì mỗi lần nhận một lời khen lại là một lần nợ? Nhiêu khê thế cơ à.
          Từ lần nói chuyện ấy thấy ông Chín Dúm có cách nghĩ hay hay nên tôi thích. Ông cũng biết tôi thỉnh thoàng có viết lách đôi chút thì nể ra mặt. Các buổi tối đi bộ về nếu thấy ông đang ngồi ở hiên nhà kho thì tôi lại ghé vào nói chuyện. Có người bảo rằng ai lại thầy giáo lại giao du với ăn mày, rồi giao du với ăn mày thì lại đi ăn mày à. Có người thì lại cho rằng tôi tọc mạch vậy để lấy tư liệu viết văn. Còn tôi thì chả quan tâm, người ta nghĩ gì cũng chả sao.
          Một hôm ông đột ngột hỏi:
          - Mày có hay để ý nghe kèn đám ma vào buổi sáng không?
          Tôi trả lời là không. Để ý làm gì cho mệt. Với lại tôi thường ngủ dậy muộn...
          Ông Chín Dúm bảo:
          - Tao già rồi, ngủ không được mấy. Cứ ba giờ sáng đã thức nằm trằn trọc đợi sáng. Mà cái giấc ấy đất giời tĩnh lắm. Chả mấy ngày mà không có tiếng kèn đám ma ở các phía đông tây nam bắc rót về. Nghe rõ mồn một. Đầu tiên nghe kèn mà tưởng tượng mình đang nằm trong quan tài rồi bị chôn xuống đất nhá, rồi tan rữa nhá... Có lúc tao giơ tay lên nghĩ bây giờ đang sống giãy ngoay ngoảy mà chẳng bao lâu thì những đốt xương ngón tay này sẽ rụng, cái đầu cũng rụng, cái cổ cũng rụng, nói chung rụng hết chả cái nào dính với cái nào... thành một mớ lủng củng. Cũng khiếp lắm mày ạ! Và tiếc lắm mày ạ! Dù rằng sống cũng chỉ là thằng ăn mày ăn xin...
          Tôi rùng mình!
          Ông nói tiếp:
          - Ấy vậy mà nghe nhiều lại thấy quen, rồi thấy hay. Tự dưng thấy thích. Bởi vì ai mà chẳng chết, có ai thoát được đâu nào. Vậy nên tao chẳng sợ nữa mày ạ! Rồi tao lại thích chết mày ạ. Chết để xem cảm giác nó ra làm sao.
          Tôi bảo ông sẽ còn sống còn lâu. Có phải thích chết mà chết ngay được đâu. Ông gật đầu ngẫm ngợi một tý rồi bảo: “Có nhẽ vậy thật! Tao chưa thể chết được bởi vì còn phải giả nợ. Mới được lưng xô đá... bao giờ mới được hai xô. À mà này: sau này nếu tao chết thì lấy đá ấy mua thêm mấy cân xi măng làm cho tao cái bia nhá. Một cái bia vừa vừa chỉ cần hai xô đá chứ mấy. Chắc là sẽ đủ vì dạo này được nhiều hơn, có ngày được đến dăm chục viên ấy mày ạ. Chữ thầy giáo chắc phải đẹp. Nhớ nhá!”
          Ô hay, đến người ăn mày mà cũng cần một tấm bia trên ngôi mộ của mình. Và tấm bia ấy lại được làm bằng những viên đá mạt ghi dấu những lần bị người đời hắt hủi... tấm bia càng to càng nhẹ lòng vì nghĩ rằng mình đã trả được nhiều nợ cho đời. Thì ra người ta ai cũng cần một dấu ấn tồn tại sau khi giã từ trần thế, dù chỉ để đánh dấu một nấm đất lạnh lùng chẳng chút khói hương.
          Tôi vẫn thắc mắc chuyện ông “Chín Dúm” bảo là đã giết người. Hỏi mấy lần về việc ấy thì chỉ thấy ậm ừ không nói. Gặng mãi mới buột ra đúng một câu: “Ôi dà... cái thời Cải cách... lôi thôi lắm”. Có thể ông ta là người của “Đội”? Nhưng nếu vậy thì phải là cán bộ chứ đâu lại dẫn vợ con tay không chạy xuống tận xứ bùn bãi này làm gì. Hay lão là “cốt cán” đấu tố để người ta chết oan. “Nhời nói, đọi máu”... Có khi vậy thật! Bởi vì những “cốt cán” kiểu ấy sau đó thường bị người làng khinh ghét đến nỗi phải bỏ xứ mà đi.
          Mà thôi... cũng chẳng nghĩ làm gì cho mệt. Bởi người ta chả có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Vả lại tự người ta đang dằn vặt sám hối!
          Cách đây đến gần tháng, tôi đang ngủ thì bị dựng dậy vì tiếng huyên náo phía nhà kho. Cả làng nháo nhác người nọ hỏi người kia: có trộm à, cháy nhà à... Chả ai biết để trả lời... Vậy là huỳnh huych chạy như đuổi nhau đến hiện trường. Tôi cũng mắt nhắm mắt mở chạy theo. Đến nơi thấy lão Chín Dúm đang ngồi phệt giữa đường một tay bốc đất bỏ lên đầu, tay kia chỉ hướng nam, mắt thất thần, miệng gào thất thanh: “Im đi! Bảo nó im đi! Lạy các ông các bà... bảo nó im đi”. Mọi người ngơ ngác. Ai im? Ai làm sao mà phải im? Rồi tất cả im lặng ngóng về phía tay chỉ của lão và lắng nghe.
          Ở phía ấy có tiếng kèn đám ma!         

          Tôi xin phép Ban Giám hiệu nhà trường đổi tiết dạy học và phóng xe về. Đến gần nhà kho đã thấy người làng đi lại tấp nập. Có dễ gần đủ cả làng. Rẽ đám đông đang đứng vây kín trong nhà ngoài sân, tôi vào ngay chỗ ông Viên. Ông lão nằm dán mình trên giường gỗ ọp ẹp, cái thân hình cao lớn mọi ngày giờ xẹp xuống như cá khô. Mắt ông lão nhắm nghiền, khuôn mặt trắng bệch hốc hác, miệng ngáp ngáp sau hàng râu rậm rung rung. Hai tay ông ôm khư khư vạt áo sờn bên trái đã gợn thành vệt nâu bóng mồ hôi.  Anh Tý hét to bảo: “Đây rồi! Đây rồi, giáo Nghĩa về đây rồi!” Chợt đôi mắt của ông lão động đậy, mi mắt nhướng lên như cố mở ra nhưng không được. Miệng ông mấp máy, tay phải khều khoào vươn lên như vẫy vẫy, tay kia vẫn nắm khư khư cái vạt áo cáu bẩn.
          Chắc có lẽ ông lão định nói điều gì với mình. Tôi lại gần, có cảm giác mùi lạnh lạnh của người chết. Rồi thấy miệng ông lão mở ra to hơn và từ đấy có tiếng khào khào trong tiếng thở đùng đục:
          - Cố giúp tôi... không chôn nhá... phí đ...ất... Vướng mắt... mắt mọi người. Cho hê..ết... xu..ống.. sông... nhá.
          Ông lão dừng lại, mồm vẫn há, tiếng thở hực hực... tay phải vẫn giơ lên. Có lẽ ông cố lấy hơi để còn nói tiếp... Tôi cố chờ để nghe. Mọi người cũng im bặt. Không gian như lặng đi. Chả nhẽ ông già bảo bỏ ông xuống sông? Ôi chao ông lão này đến chết vẫn còn gây cho người ta những bất ngờ...
          - Cố dành... được tí để... đốt... Đốt nhá.. cả gio cả... đá... xuống s..ông   nh...á... cho mát...
          Đến đây thì tay phải ông lão hướng sang phía trái trong khi cái vạt áo bên ấy đang được bàn tay còn lại vén lên để hở khoảng bụng nhăn nheo... Khi tôi cầm lấy vạt áo định kéo xuống thì bàn tay ấy dúi dúi vào tay tôi như ra hiệu điều gì. Chắc có cái gì đang để trong vạt áo? Lục túi áo không có, tôi lần xuống gấu áo. Cánh tay ấy thả xuống ngay khi tôi lần gấu áo. Chợt thấy cồm cộm, tôi lấy ra: đó là một khoen vàng nhỏ, khoảng một chỉ...
 Chợt nghe tiếng anh Tý: “Ông cụ “đi” rồi!”   
          Tôi vuốt mắt cho ông lão. Thực ra làm lấy lệ bởi vì mắt ông lão đã nhắm, nhưng vẫn phải làm đề phòng sau khi chết một lúc có hiện tượng co cơ mắt lại mở ra. Tôi gặp những sợi lông mi rợn rợn trong lòng bàn tay. Đưa tay lên, tôi chợt thấy tay mình ươn ướt nước mắt nóng ấm.
         
                                                                                                                                               
                                                         Tuyên Quang- Hải Hậu Nam Định tháng 5 năm 2014

                                                                                             MAI TIẾN NGHỊ
Đọc thêm!

Thứ Năm, ngày 05 tháng 6 năm 2014

NỢ NHÂN GIAN (Truyện ngắn của Mai Tiến Nghị)

Báo Văn nghệ số 23 (07-6-2014) vừa đăng cái truyện ngắn của mình. Tên của truyện do mình đặt là "Trả nợ" nhưng được biên tập đổi là "NỢ NHÂN GIAN". Một cái tên rất hay rất đúng với truyện. Cảm ơn báo Văn nghệ.
Mình xin gửi tới phần đầu... phần sau sẽ đăng tiếp,  kẻo dài quá mất thời gian bạn đọc.

Tôi đang ở trường chợt nghe vợ gọi:
          - Anh về ngay! Ông Viên sắp chết…
          - Viên nào?
          - Ông Viên “Chín Dúm” chứ ông Viên nào nữa mà phải hỏi.
          Nghe vợ nhấm nhẳng mà phát bực. Thôi chả thèm hỏi nữa. Tính vợ tôi vẫn thế… nhấm nha nhấm nhẳng chả ra làm sao. Nhưng mà lão “Chín Dúm” ăn mày chết thì có ảnh hưởng gì đến mình? Nhà lão ở tận cuối xóm, thỉnh thoảng cũng gặp, cũng trò chuyện. Chẳng ra người xa lạ nhưng không thể thân. Không thể thân bởi lão nhiều hơn mình đến vài chục tuổi, càng không thể thân vì lão là ăn mày dù rằng ngày xưa lão cũng tương đối khá giả. Ngẫm sự đời thấy vỡ ra muôn nỗi buồn cười: ngày xưa không thể thân vì lão giàu, người giàu lúc ấy bao giờ cũng bị gắn cho cái mác bóc lột hoặc bất minh... mà dù có minh bạch nhưng anh giàu thì cũng đáng khinh... tại sao chúng tôi nghèo rớt mà anh lại giàu sụ? Sau này lão nghèo... thì thời đại đổi thay, mọi người vẫn khinh... vì lão… nghèo. Tôi cũng trong số người ấy. Khinh cho đến khi lão phải đi ăn mày, lúc ấy mới thương hại. Thì ra con người ta ai cũng luôn lấy cái thế bề trên để ghét, để khinh, để thương hại. Trò chuyện mấy lần với lão, thấy cũng hay hay… Lão thấy tôi để ý lắng nghe những câu chuyện của lão nên có vẻ cũng thích tôi. Chắc đó là lẽ tự nhiên bởi mình nói mà có người nghe thì thích, người nghe mà lại đưa đà bình luận một tý thì khoái, thì ra đấy là người tri âm tri kỷ. Nhẽ đời vẫn thế... Nhưng lão chết thì cứ việc chết... có ai sống mãi được đâu. Nhẩm ra lão cũng trên tám mươi tuổi rồi, cũng là thọ rồi. Ăn mày mà sống hơn tám mươi cũng là hơi quá... bền làm chi cái kiếp ăn mày! Cái lạ là sao mình phải về ngay...
          Vậy nên phải cố nhịn mà hỏi tiếp:
          - Nhưng... sao tớ phải về ngay?
          - Anh Tý bảo phải về ngay... anh ấy bảo về ngay để gặp ông “Chín dúm” thì ông ấy mới “đi” được.
          Lại còn thế nữa! Không gặp mình thì không thể chết được. Hay là qua những câu chuyện với mình, lão “Chín Dúm” thấy có điều gì bí ẩn cần phải giải toả, hay là cần nhờ vả điều gì, hay là lão muốn mình xem giờ để lão “đi” cho khỏi “trùng tang”. Mà tứ cố vô thân như lão thì “trùng” có ai để mà bắt, thông thường “trùng” chỉ bắt người nội tộc chứ bắt chi người ngoài.

          Thực ra lão “Chín Dúm” là người ở đâu nhập cư về làng tôi cũng chả ai biết và lão cũng chẳng hề nói. Có chăng mấy ông cán bộ xã ngày xưa biết nhưng các ông ấy lại chết cả rồi. Hồi sau Cải cách, khoảng năm năm bảy năm tám thế kỷ trước thấy lão dắt díu vợ và hai thằng con thò lò mũi chắc kém tôi vài ba tuổi về làng, dựng một cái lều ở góc chợ. Lão ngày ngày đi khắp các làng mua chó về làm thịt cho vợ bán ngay tại chợ.
          Lão Viên có khổ người cao lớn, bộ mặt dữ tợn, râu ria rậm rạp như tướng cướp trong phim Liên xô, lúc nào cũng thấy lão sùm sụp trên đầu cái mũ vải rộng vành màu chó gio của lính “Bảo Hoàng” thời Pháp thuộc che hết vầng trán. Đã thế lão lại đeo cái kính râm hai mắt có ốp vải bạt to bằng cái muôi múc canh sát thái dương, hình như là kính bảo hiểm của thợ hàn. Sau bộ râu là tiếng “hừm hừm” làm trẻ con phát khiếp. Ngày ngày lão chống ba toong có cuốn một sợi dây thừng đi khắp làng trên xóm dưới… lão đi đến đâu lũ chó thất thần vừa sủa oăng oẳng vừa cúp đuôi chạy bán sới. Người ta lấy lão để doạ trẻ con: “Im ngay không thì ông Viên đến bắt bây giờ!”. Thế là đứa trẻ nào gan lì nhất trong làng cũng phải nín bặt. Lão Viên rậm râu thực sự là hung thần và là nỗi ám ảnh của bọn trẻ con.
          Cái việc làm thịt chó của lão cũng khác người. Lão treo ngược con chó vào cột nhà, xẻo một miếng da ở cổ con vật đáng thương, sau đó dùng cái đũa vót nhọn khều khều trong đám gân thịt bầy nhầy để tìm động mạch… Cũng chỉ một nhoáng là lão lôi ra một sợi tròn tròn, to gần bằng chiếc đũa đang giật giật… lưỡi dao xén ngọt… máu phọt ra, lão lạnh lùng đưa cái sanh đồng hứng trọn. Dòng máu phụt ra quá mạnh gặp đáy sanh bắn ngược vào mặt kẻ sát sinh, tung toé trên nền đất... Máu chó đọng thành giọt trên râu trên má lão. Chắc là thấy vương vướng nên lão cúi xuống dụi dụi vào vai. Lúc lão ngẩng lên thì vẻ dữ tợn càng dữ tợn vì cả khuôn mặt và cả bộ râu rậm đã được nhuộm đỏ nhoe nhoét … Khi cái sanh đồng tiết đã lưng lưng là lúc con vật khốn khổ giãy giãy vài cái, rướn xương sống lần cuối cùng rồi dãn ra bất động. Nó đã chết! Nhúng cái hình hài vô hồn vào nước sôi, lão vặt lông và dùng kẹo đắng bôi đều trên da đến đỏ lịm rồi thui sơ sơ bằng rơm. Đem ra ao lấy búi kỳ cọ… lúc này kẹo đắng ngấm vào da chó trông vàng ươm như thể được thui rất kỹ. Mổ chó xong, lão dùng chày đập đến dập hết mọi thớ thịt rồi mới đem luộc. Luộc xong lão lại ngâm xuống ao khoảng vài giờ cho thớ thịt ngấm nước đến trương no... Sau cùng lão nhúng cả con chó đã no nước vào nồi nước sôi ùng ục rồi vớt ra treo lên. Bên ngoài trông con chó vừa béo vừa săn nhưng thái ra thì thịt nhũn nhèo nhèo, nhạt thênh thếch.
          Với cung cách như vậy cùng với bà vợ trắng trẻo phốp pháp khéo mồm chèo kéo chào mời nên tiền lãi của lão gấp hai, ba lần những tay đồng nghiệp khác. Dần dần phát đạt, lão lấn ruộng xây nhà làm nên cơ ngơi đàng hoàng nhất xóm. Lão phát đạt, lão giàu nên nhiều người ghét, họ gán cho lão cái tên “Viên chó”
            
          Năm bảy sáu tôi được giải ngũ sau mấy năm khốn khổ đánh nhau. Xuống xe ở thành Nam đợi xe nửa ngày trời ở  bến mà không đi được. May sao gặp ông chú đi xe đạp ngang qua. Chú cháu nhận ra nhau mừng đến rơi nước mắt. Ông chú bảo đến tối cũng không có ô tô đâu, thôi ngồi lên xe tao đèo về. Quãng đường hơn bốn chục cây số nên chú cháu thay nhau đạp xe  từng chặng. Chặng cuối ông chú bảo “thử xem mày còn nhớ lối về nhà không nào” và ông ngồi sau để tôi cầm lái. Rướn mình trên cái xe đạp cà tàng tôi hồi hộp theo từng vòng bánh xe khi về gần đến quê nhà. Làng quê cũng chẳng khác mấy, có khi còn tiều tuỵ hơn ngày mới ra đi. Phố chợ xiêu vẹo mái rạ trống hơ trống hoác càng làm nổi bật căn nhà ngói của lão Viên sừng sững ở góc chợ.
          Mải nhìn, tôi và cả cái xe đạp cùng ông chú đổ vật xuống đường. Lồm cồm bò dậy thì ngay trước mũi xe là một lão già đang nằm nhăn nhó quằn quại. Nhìn mặt thấy râu ria rậm rạp quen quen nhưng đôi con mắt thì lạ hoắc, nó nhỏ nhưng sắc lẹm đang hấp háy… có cảm giác như thể một con dao lá lúa sắc nhọn được người ta dứ dứ liếc qua liếc lại. Tiếng la oai oải từ sau cái rậm rạp của bộ râu:
          - Ối giời ôi! Chết… tôi… rồi. Ơi “các sĩ quan vặt lông chó” của bố ơ…i. Bố chết đây này. Họ đâm xe chết bố rồi. Gẫy rời cả chân cả tay rồi…
          Ông chú tôi cũng đã đứng dậy được, khập khiễng đến bên lão già vừa kéo tay lão vừa cười bảo:
          - Nào ông Viên, đứng dậy nào… xem có việc gì không! Gớm xe đạp xô vào mà như sắp chết đến nơi. Chỉ khéo ăn vạ!
          À thì ra đây là lão Viên. Vậy mà mình không nhận ra... vì bây giờ mới được thấy đôi mắt của lão. Đôi mắt mà trước đây luôn giấu sau cái kính râm có chụp vải bao quanh như kính thợ hàn. Lão gượng ngồi dậy, mặt nhăn nhó ra vẻ đau đớn... mồm xuýt xoa “Ối giời... Ối giời... đau... quá”, một tay trái nắm lấy tay ông chú tôi, còn tay phải thì quờ quạng tìm cái kính. Thực ra cái kính râm đang trong tầm tay lão vì hình như nó được quăng ra với chủ ý ăn vạ. Lão đeo kính vào, ngước nhìn người đang kéo tay... rồi đột nhiên lão đứng thẳng dậy như chẳng có chuyện gì xảy ra, mồm liến thoắng:
          - Hế hế...Tưởng ai! Hoá ra ông Chắt hử... Ông đi đâu về... ừ nhỉ về nghỉ cuối tuần hử... còn ai đây?
          Ông chú tôi giới thiệu, thế là lão vồ lấy tay tôi lắc lấy lắc để:
          - Ối giời ơi... thằng Nghĩa con nhà ông Đức hử. Quý hoá quá. Sống mà về là quý hoá quá... Có mang được cái khung xe đạp nào về không? Không hử. Thôi cũng được... còn sống là tốt rồi. Mà  bây giờ nhiều anh khôn lắm, trong ba lô có hàng cân vàng... cần gì cứ phải khung xe đạp... Thôi về nhà ngay, về ngay cho bố mẹ mày mừng. Tối tao sang chơi. Gớm cứ tưởng ai...
          Tôi đi bộ đội đánh nhau trong Nam mấy năm trời nên chả biết gì về lão Viên. Thỉnh thoảng cũng gặp đồng hương. Thôi thì đủ thứ chuyện... nhưng tuyệt nhiên không một ai nhắc nhỏm gì đến lão. Lão thừa ra trong sự quan tâm của người làng... Sau hỏi ông chú thì biết cái sự thừa ra ấy bởi lão giầu mà hai thằng con lại không phải đi bộ đội với lý do thiểu năng trí tuệ. Thì đấy hai thằng con lão có biết chữ nào đâu! Vì chúng nó chẳng bao giờ đến trường, cộng với chút quà cáp cho cánh cán bộ xã là có ngay cái cớ để nói rằng hai thằng bị thiểu năng trí tuệ. Tôi biết điều này vì lúc mười một mười hai tuổi thỉnh thoảng vẫn gặp chúng nó. Mặc dù hơn chúng vài tuổi nhưng vẫn bị chúng bắt nạt, hai đứa cậy số đông “hai đánh một chẳng chột cũng què”. Có lần tôi hỏi sao chúng mày không đi học thì hai thằng đều nói bố tao bảo học làm đếch gì, nhớn lên ở nhà giết chó. Giết chó thì không cần phải học. Đang đánh nhau rầm rầm, biết chữ lại phải đi bộ đội.

           Sao có loại người khôn róc đến thế? Khôn đến mức tự gánh chịu thiệt thòi để giữ yên mạng sống. Cũng phải... cái gì cũng đều có giá của nó. Lão không hề giấu giếm và thậm chí còn vênh vang tự hào vì cái việc ấy. Lão trêu ngươi thiên hạ bằng cách âu yếm gọi hai thằng quý tử là “sĩ quan vặt lông chó của bố”. Hai thằng này không đi bộ đội nhưng thích mặc quần áo bộ đội. Lúc nào cũng thấy đóng bộ quần ga-ba-đin Tô Châu thùng thình, áo bay, mũ cối… như thể sĩ quan, miệng phì phèo thuốc lá, chả làm gì suốt ngày nhông nhông ngoài đường, đêm vào làng tán gái và đánh nhau với bọn choai choai.

(Còn nữa)
Đọc thêm!